 |
CHĂM SÓC DINH DƯỠNG KHI MANG THAI
1. Vai trò của dinh dưỡng hợp lý
Thời kỳ trẻ còn trong bào thai, dinh dưỡng của trẻ phụ thuộc vào dinh dưỡng của mẹ. Nguồn dinh dưỡng từ mẹ sẽ theo máu qua rau thai đến cung cấp cho con. Vì vậy khi có thai mẹ vừa ăn cho mình, vừa ăn cho con.
Dinh dưỡng đầy đủ sẽ giúp mẹ có sức đề kháng tốt tránh mắc bệnh, đủ sức để sinh con, mau phục hồi sức khỏe sau sinh, có đủ sữa cho con bú.
Mẹ được dinh dưỡng tốt từ trước và trong khi mang thai giúp con không bị suy sinh dưỡng bào thai, suy thai, chậm phát triển tâm thần vận động.
2. Nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng chính
Nhu cầu năng lượng thay đổi tùy theo loại hình lao động, thể trạng. Nhu cầu năng lượng trung bình ở phụ nữ 2200kcal/ngày. Phụ nữ mang thai trong ba tháng giữa cần tăng nhu cầu năng lượng thêm 360kcal/ngày, trong ba tháng cuối cần thêm 475 kcal/ngày. Phần năng lượng tăng thêm này tương đương 3 lưng chén cơm, hoặc 3 lát bánh mì lớn(150g)
Cung cấp đủ nhu cầu năng lượng trong quá trình mang thai để đảm bảo tăng cân cho bà mẹ. Khuyến nghị mức tăng cân của bà mẹ căn cứ theo BMI như sau:
BMI--------------------------->Số cân nặng tăng lên (kg)
Thấp <19,8------------------->12,5 - 18
Bình thường 19,9 - 26--------->11,6 - 16
Cao 26,1 - 29----------------->7 - 11,5
Béo phì >29,1----------------->≤ 7
Tốc độ tăng cân nên duy trì ở mức 0,4kg/tuần trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối thai kỳ đối với phụ nữ có cân nặng bình thường trước khi mang thai- 0,5kg/tuần đối với phụ nữ có cân nặng thấp và 0,3kg/tuần đối với phụ nữ thừa cân.
Protein
Protein cần thiết để xây dựng bào thai, nhau thai, mô cơ thể mẹ trong thai kỳ cần 925g. Nhu cầu protein ở phụ nữ mang thai trong 6 tháng đầu cần tăng thêm 10-15g/ngày so với bình thường, ở phụ nữ mang thai trong 3 tháng cuối cần tăng thêm 12-18g/ngày. Ăn các thực phẩm giàu chất đạm như thịt cá, trứng, sữa, các loại đậu.
Cần chú ý tâm lý phải bồi dưỡng khi mang thai dẫn đến việc tiêu thụ quá mức chất đạm khá phổ biến tại Việt nam, đặc biệt là các thành phố và vùng mới đô thị hóa. Việc ăn quá nhiều protein cũng có tác hại như tăng sử dụng chất béo vì chúng thường đi kèm với thịt, tăng tải đối với thận, tăng nguy cơ ung thư đại tràng và vú, tăng mất chất khoáng từ xương
Lipid
Lipid cần thiết cho xây dựng màng tế bào và hệ thống thần kinh của thai nhi, cung cấp năng lượng và giúp hấp thu các vitamin tan trong dầu cho mẹ. Phụ nữ có thai cần lipid ở mức cao hơn bình thường, chiếm 25-30% năng lượng của khẩu phần.
Nên sử dụng cả acid béo no và không no. Acid béo no (có nhiều trong mỡ động vật, dầu dừa, dầu cọ) nhưng không nên dùng quá 10% năng lượng khẩu phần. Tăng cường sử dụng dầu thực vật (dầu nành, dầu đậu phộng, dầu mè, mỡ cá) để cung cấp nhiều acid béo không no
3. Nhu cầu vitamin và các khoáng chất
Nhu cầu của nhiều vitamin và khoáng chất tăng lên khi phụ nữ mang thai.
Calci
Calci cần cho thai nhi xây dựng bộ xương và tạo răng, mẹ sẽ chuyển cho con 30g calci trong suốt thai kỳ. Nhu cầu calci hàng ngày ở phụ nữ mang thai cần tăng thêm 300mg/ ngày đạt 1000mg/ ngày
Thực phẩm chứa nhiều calci như sữa và các sản phẩm từ sữa, cá, đậu, rau xanh. Sữa và các sản phẩm từ sữa như sữa chua, phomai, kefir, kem là nguồn cung cấp calci tốt cho cơ thể, một ly sữa chứa khoảng 250mg calci
Acid folic
Acid folic hoạt động như 1 coenzym trong một loạt các phản ứng hóa học tổng hợp DNA- cần thiết cho sự phân chia tế bào, tổng hợp purin, chuyển đổi amino acid cần thiết cho sự phát triển bình thường của cơ thể. Khi thiếu acid folic ở phụ nữ có thai dễ gây ra thiếu máu dinh dưỡng đại hồng cầu và gây dị tật ống thần kinh ở thai nhi.
Acid folic dễ bị phân hủy bởi nhiệt độ, tia cực tím, chất oxy hóa. Quá trình chế biến có thể làm mất 50-90% khi nấu ở nhiệt độ cao và nhiều nước
Acid folic có trong tất cả các loại thực phẩm, có nhiều trong các loại rau có lá, bắp cải, măng tây, bông cải xanh và trắng, cam, chuối, thận, trứng
Nhu cầu acid folic ở phụ nữ mang thai cần cao hơn bình thường, 600 µg /ngày.
Hiện nay sử dụng viên bổ sung acid folic cho phụ nữ mang thai 400 µg/ngày đượ áp dụng rộng rãi trên thế giới. Cần lưu ý phải uống bổ sung sớm ngay khi phát hiện có thai và liên tục đến tuần thứ 12. Những phụ nữ đã có lần sinh con bị dị tật hệ thần kinh cần được bổ sung acid folic liều cao 4mg/ ngày
Vitamin A
Cơ thể mẹ cần có một lượng vitamin A dự trữ đủ để cung cấp cho con và tăng sức đề kháng cho mẹ. Nhu cầu vitamin A của phụ nữ mang thai cao hơn so với bình thường, 800 µg/ngày. Tuy nhiên nếu phụ nữ mang thai tiêu thụ quá nhiều vitamin A có thể gây quái thai với các dị dạng ở vùng đầu mặt, tim mạch, bộ phận sinh dục, thần kinh trung ương. Theo khuyến nghị của WHO, phụ nữ mang thai không nên tiêu thụ quá 3000 µg vitamin A/ngày.
Một liều cao vitamin A 200.000 đơn vị bổ sung cho bà mẹ trong vòng một tháng sau sinh là cần thiết đặc biệt cho con
Trong thực phẩm vit A nguyên dạng có trong các thực phẩm có nguồn gốc động vật: gan, lòng đỏ trứng, bơ, sữa, thịt… Các -caroten và carotenoid có trong các thực phẩm có nguồn gốc thực vật chủ yếu là các rau quả có màu xanh, màu vàng, đỏ. Khi vào cơ thể tiền vit A sẽ được chuyển thành vit A theo tỷ lệ 12:1 đối với trái cây và 22-24: 1 đối với rau
Vitamin D
Vitamin D cần thiết cho sự hấp thu calci và phospho ở tá tràng và ruột non, tái hấp thu calci ở ống lượn xa của thận và gắn chúng vào xương góp phần cấu tạo xương. Thiếu vit D sẽ dẫn tới nhuyễn xương, co giật do hạ calci máu, loãng xương. Nguồn cung cấp vitamin D quan trọng cho cơ thể (80%) là do sự tổng hợp trong da dưới tác dụng của của ánh sáng mặt trời.
Rất ít thực phẩm có hàm lượng vit D cao. Thực phẩm có nguồn gốc động vật giàu vit D là gan cá, trứng, bơ, sữa, các loại cá béo. Hầu hết các lọai cá có 200-600 đv/100g. Cá trích có lượng vit D 1600 đv/100g. Thực phẩm có nguồn gốc thực vật hoàn tòan không có vitamin D.
Nhu cầu vitamin D ở phụ nữ mang thai là 400 đơn vị/ ngày. Nếu điều kiện sống thiếu ánh sáng nên uống vitamin D bổ sung
Vitamin B1
Nhu cầu vitamine B1 ở phụ nữ mang thai cần đạt là 1,4 mg/ngày để phòng tránh bệnh tê phù. Vit B1 có nhiều trong lớp màng ngoài của hạt ngũ cốc (94% lượng thiamin của thực phẩm).
Nhu cầu vit B1 sẽ được thỏa mãn khi sử dụng gạo không xay xát trắng quá, chế độ ăn nhiều hạt họ đậu. Những thực phẩm thiếu vit B1 là các loại đã qua chế biến ví dụ như gạo xát quá trắng, các loại ngũ cốc, dầu mỡ tinh chế và rượu. Thực phẩm giàu vit B1 là thịt heo, các loại hạt đậu, rau, các loại sản phẩm từ nấm mốc, men, một số loài cá.
Vitamin C
Vitamin C có nhiều trong các quả chín. Rau xanh có nhiều vitamin C nhưng bị hao hụt nhiều trong quá trình nấu nướng. Rau thân mềm chứa nhiều vit C hơn
Phần lá có nhiều vit C hơn phần thân, nhưng sau 10 phút nấu, còn lại 82% vit C ở phần thân trong khi phần lá chỉ còn 60%. Quá trình chế biến không có mặt không khí sẽ giữ được nhiều vit C hơn.
Vitamin C giúp hỗ trợ hấp thu sắt, tăng khả năng miễn dịch, chống lại các tác nhân gây oxy hóa
Nhu cầu vit C ở phụ nữ mang thai là 80mg/ngày
4. Nhu cầu vi chất
Sắt
Sắt rất cần thiết cho cả mẹ lẫn con.Tổng lượng sắt nguyên tố cần trong khi mang thai khoảng 840mg, trong đó 200-370mg cho thai nhi tạo hemoglobin và dự trữ, 30-170mg để hình thành bánh nhau, 450mg cho mẹ tăng khối lượng máu và 250mg cho lượng máu mất khi sinh. Như vậy nhu cầu sắt hàng ngày ở phụ nhữ mang thai sẽ tăng từ 1mg lên 3mg/ngày đặc biệt ở nửa cuối thai kỳ. Để đáp ứng nhu cầu đó người mẹ cần cung cấp lượng sắt hàng ngày là 30mg.
Khả năng hấp thu sắt từ thực phẩm thay đổi từ 5-25% tùy theo loại sắt heme hay sắt không heme. Sắt heme có trong thức ăn nguồn gốc động vật, sắt không heme có trong thức ăn nguồn gốc thực vật. Sắt hem dễ dàng hấp thu. Sắt không heme khó hấp thu hơn,và phụ thuộc vào sự có mặt một số chất làm tăng hay cản trở hấp thu sắt. Các chất ức chế hấp thu sắt là phytate (trong gạo, ngũ cốc), tanin (một số rau, trà, cà phê), mangan, phosphat. Các chất tăng khả năng hấp thu sắt là acid ascorbic, citric, lactic, malic, HCl , protid động vật, acid hữu cơ trong rau quả, trái cây. Thêm 25-30mg vitamin C vào khẩu phần ăn có thể tăng hấp thu sắt lên đến 85%
Thức ăn nguồn gốc động vật như thịt, gan động vật chứa lượng sắt tương đối cao và dễ hấp thu. Một số thực phẩm chế biến sẵn dược tăng cường sắt như bột dinh dưỡng, bột mì, nước mắm, mì tôm… cũng là là nguồn cung cấp sắt quan trọng trong phòng chống thiếu máu ở các đối tượng có nguy cơ.
Dụng cụ chế biến thực phẩm, đặc biệt những loại bằng sắt hoặc gang, có khả năng làm tăng lượng sắt trong khẩu phần ăn khi chế biến và giảm tỉ lệ thiếu máu.
Iod
Iod có vai trò rất quan trọng đối với phụ nữ mang thai. Hậu quả nghiêm trọng nhất của thiếu I là ảnh hưởng đến sự phát triển của bào thai- phụ nữ mang thai thiếu I có nguy cơ xảy thai, thai chết lưu, sinh non, trẻ sinh ra sẽ bị chậm phát triển trí tuệ do tổn thương não, cân nặng sơ sinh thấp, ngoài ra dễ bị các khuyết tật bẩm sinh như liệt tay chân, nói ngọng, điếc, câm, lé. Thiếu iod dẫn đến tăng tỷ lệ tử vong chu sinh
Nguồn chính cung cấp I cho cơ thể là qua nước và thức ăn. Hàm lượng iod trong thực phẩm phụ thuộc vào hàm lượng iod có trong đất và nước. Thực vật và động vật nuôi trồng ở vùng thiếu iod cũng có hàm lượng iod thấp.
Thực phẩm giàu iod là cá biển, rong biển. Iod trong cá biển thay đổi từ 13 -66 µg/100g. Rong biển có thể có 500 µg/100g
Sử dụng muối ăn có bổ sung iod là giải pháp chính để phòng chống các rối loạn do thiếu hụt iod. Muối iod chỉ có tác dụng phòng bệnh khi có đủ lượng iod. Hàm lượng iod trong muối phải đạt 20-40 ppm mới có tác dụng phòng bệnh
Nhu cầu iod ở phụ nữ mang thai cần cao hơn bình thường, 200 µg/ngày
Kẽm
Kẽm cần thiết cho sự phát triển bình thường của thai và bánh nhau. Thiếu kẽm ở mẹ là nguyên nhân của suy dinh dưỡng bào thai. Phụ nữ mang thai cần 100mg kẽm cho cả thai kỳ.
Kẽm có trong nhiều loại thực phẩm nguồn gốc động vật như thịt, cá, hải sản. Thực phẩm có nguồn gốc thực vật thường chứa ít kẽm và có giá trị sinh học thấp. Hấp thu kẽm phụ thuộc vào các điều kiện như hàm lượng kẽm trong thức ăn, nguồn gốc thức ăn và sự có mặt của các chất ức chế hay các chất kích thích sự hấp thu kẽm. Hàm lượng kẽm trong thức ăn càng thấp thì tỷ lệ hấp thu càng cao. Hấp thu kẽm có thể giảm khi hàm lượng sắt lớn hơn 25mg/ngày. Tỷ lệ sắt/kẽm phù hợp nhất để hạn chế sự ức chế hấp thu này không quá 2:1.
Nhu cầu kẽm ở phụ nữ mang thai cần tăng gấp đôi so với bình thường từ 7-14mg/ngày
|
|